Hà Tĩnh khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển và hải đảo

Cập nhật: 27/03/2024
Tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu đến năm 2050, tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả trên nền tảng tăng trưởng xanh, đa dạng sinh học biển được bảo tồn, môi trường biển và các hải đảo trong lành, xã hội hài hoà với thiên nhiên.

Hà Tĩnh là tỉnh ven biển thuộc khu vực Bắc Trung bộ, nằm trên trục giao thông huyết mạch Bắc - Nam, Đông - Tây, với bờ biển dài 137km, nguồn lợi thủy sản dồi dào, có ngư trường rộng lớn để phát triển ngành khai thác, đánh bắt, chế biến hải sản và nhiều bãi biển đẹp thích hợp cho phát triển du lịch.  

Biển Hà Tĩnh có tính đa dạng sinh học cao, vùng ven bờ thuận lợi cho việc nuôi trồng thuỷ sản với diện tích trên 20.000ha; bờ cát dài, thoải, mịn cùng với làn nước trong xanh là điều kiện lý tưởng để phát triển các khu du lịch biển như Thiên Cầm, Xuân Thành, Đèo Con. Đặc biệt, Cụm cảng nước sâu như Vũng Áng, Sơn Dương trong tương lai sẽ là cửa ngõ ra biển Đông và Thái Bình Dương của vùng Bắc Trung bộ và các nước trong khu vực như Lào, Thái Lan và Myanma. 

Những lợi thế về nguồn tài nguyên biển, đảo đã tạo điều kiện để tỉnh Hà Tĩnh phát triển đồng bộ các ngành kinh tế biển. 

Với bờ biển dài 137km từ Cửa Hội, huyện Nghi Xuân đến vùng biển Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh đã hình thành rất nhiều bãi tắm với vẻ đẹp hoang sơ như Thiên Cầm, Kỳ Ninh, Xuân Thành. Bãi tắm Thiên Cầm đã được quy hoạch với tổng diện tích trên 1.500ha bao gồm thị trấn Thiên Cầm, xã Cẩm Dương, Cẩm Lĩnh và toàn bộ diện tích đất tự nhiên xã Cẩm Nhượng của huyện Cẩm Xuyên. Các bãi tắm Xuân Thành (Nghi Xuân), Xuân Hải (Lộc Hà), Thạch Hải (Thạch Hà), Kỳ Xuân, Kỳ Ninh (Kỳ Anh) gắn với tín ngưỡng, lễ hội văn hóa dân gian như lễ cầu ngư, lễ hội đền Lê Khôi, lễ hội đền Bà Nguyễn Thị Bích Châu. Mỗi năm có hàng vạn lượt du khách đến tham quan, tắm biển và tham gia các lễ hội.

Dọc theo bờ biển từ huyện Nghi Xuân đến Kỳ Anh, Hà Tĩnh có cửa biển Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng, Cửa Khẩu với các vùng đầm phá rộng hàng trăm ha. Đây là tiềm năng lớn để người dân khai thác đánh bắt cá vùng khơi, vùng lộng và nuôi trồng thủy, hải sản. Với vị trí chiến lược, cửa ngõ quan trọng của hành lang kinh tế Đông - Tây, với những tiềm năng, lợi thế thuận lợi để phát triển kinh tế biển, tỉnh Hà Tĩnh xác định trở thành tỉnh mạnh về biển, giàu từ biển, trong đó, phấn đấu đến năm 2030, kinh tế biển đóng góp 65-70% GRDP của tỉnh; các ngành kinh tế biển phát triển theo chuẩn mực quốc tế.  

Để khai thác hiệu quả, bền vững giá trị từ tài nguyên biển đảo của địa phương trong phát triển kinh tế - xã hội, thời gian tới địa phương sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra. Cụ thể, tỉnh Hà Tĩnh đặt mục tiêu đến năm 2030, tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả để phát triển nhanh và bền vững các ngành kinh tế biển và khu vực ven biển, nhất là các lĩnh vực kinh tế biển chủ lực theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác tài nguyên khoáng sản biển; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới; nâng cao đời sống và sinh kế cộng đồng.  

Ô nhiễm môi trường biển được kiểm soát, ngăn ngừa và giảm thiểu; các nguồn gây ô nhiễm từ đất liền và trên biển, sự cố môi trường biển, ô nhiễm rác thải nhựa đại dương được quan trắc, kiểm soát và quản lý hiệu quả. Đến năm 2030, các đô thị ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% khu kinh tế và khu đô thị ven biển được quy hoạch, xây dựng theo hướng bền vững, sinh thái, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn, quy định về môi trường và sức tải môi trường biển, khả năng phục hồi, chống chịu của hệ sinh thái biển, đảo.

Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo; khu vực thuỷ sản con non tập trung sinh sống, nơi cư trú của các loài thuỷ sản, đường di cư của các loài thủy sản,...; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000... Tầm nhìn đến năm 2050, tài nguyên biển và hải đảo trên địa bàn tỉnh được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả trên nền tảng tăng trưởng xanh, đa dạng sinh học biển được bảo tồn, môi trường biển và các hải đảo trong lành, xã hội hài hoà với thiên nhiên.

Để khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển và hải đảo, giai đoạn tới, tỉnh Hà Tĩnh sẽ triển khai phân vùng sử dụng không gian biển: Thực hiện các mục tiêu bảo đảm quốc phòng, an ninh; khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo; bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản và bảo tồn các di sản văn hóa biển; Ưu tiên bố trí không gian biển cho các hoạt động: Phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng; du lịch văn hóa; Phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển, khai thác thủy sản, bảo tồn nguồn lợi thủy sản nhằm mục tiêu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất thủy sản đạt 3,0 - 4,0%/năm; Phát triển năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới thân thiện môi trường; Xác định các khu vực có thể bị nhấn chìm ở vùng biển Hà Tĩnh quản lý trong trường hợp các vật liệu nạo vét không đổ được trên bờ; Hoàn thiện, nâng cao chất lượng hệ thống cảng, các khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá, bảo đảm đủ công suất cho tàu cá thực hiện cập cảng, neo đậu.

Để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này, tỉnh Hà Tĩnh sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp.  

Ưu tiên nguồn lực để đẩy mạnh các hoạt động, mô hình khai thác, sử dụng tài nguyên hiệu quả, thân thiện môi trường, các dự án đáp ứng tiêu chí kinh tế tuần hoàn, phù hợp với trữ lượng tài nguyên và sức chứa sinh thái; hạn chế các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên bằng các công nghệ lạc hậu, hiệu quả thấp, gây tổn hại đến tài nguyên, ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học.

Thực hiện định kỳ công tác điều tra, thống kê, phân loại, quan trắc và đánh giá các loại hình ô nhiễm, tình trạng ô nhiễm, nguồn gây ô nhiễm môi trường biển. Đẩy mạnh điều tra, đánh giá sức chịu tải môi trường, xác định cấp độ rủi ro ô nhiễm môi trường biển cho phát triển kinh tế biển; phân vùng rủi ro và lập bản đồ phân vùng rủi ro ô nhiễm môi trường biển; công bố các khu vực biển, hải đảo vượt sức chịu tải môi trường. Đến năm 2025, hoàn thành lập bản đồ phân vùng rủi ro ô nhiễm và đánh giá sức chịu tải môi trường tại một số vùng rủi ro ô nhiễm cao ở vùng biển ven bờ.

Ưu tiên nguồn lực từ nguồn kinh phí bảo vệ môi trường để triển khai Kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030. Đến năm 2030, tỷ lệ thu hồi, xử lý rác thải nhựa tại các bãi biển, khu du lịch biển và khu bảo tồn biển đạt 100%. Tăng cường năng lực hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Đến năm 2030, hệ thống quan trắc, giám sát tổng hợp được hoàn thiện, hoạt động hiệu quả và được kết nối và tích hợp dữ liệu với hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo quốc gia.

Đồng thời, các ngành chức năng sẽ đẩy mạnh điều tra, đánh giá và xác định mức độ dễ bị tổn thương, tính nguy cấp của các loài sinh vật biển đặc hữu, có giá trị khoa học và kinh tế để đưa ra các phương án, giải pháp bảo vệ, bảo tồn và phục hồi. Thiết lập, mở rộng và tăng cường năng lực quản lý các khu vực tập trung sinh sản, khu vực thủy sản con non sinh sống và đường di cư của các loài thủy sản. Đến năm 2030, 50% diện tích vùng biển ven bờ được xác định là các khu vực bảo vệ nguồn lợi thủy sản và quản lý hiệu quả. Ngăn ngừa, kiểm soát chặt chẽ và phòng trừ có hiệu quả các loài sinh vật ngoại lai xâm hại; kiểm soát chặt chẽ sự du nhập các giống, loài thủy sản ngoại lai và sự du nhập sinh vật ngoại lai qua hoạt động vận tải biển.

Ngoài ra, địa phương sẽ nâng cao năng lực giám sát biến đổi khí hậu, dự báo, cảnh báo, hệ thống truyền tin cảnh báo sớm rủi ro trên biển và vùng ven biển để chủ động ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; định kỳ cập nhật kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Đến năm 2030, hệ thống dự báo, cảnh báo thiên tai, tác động của biến đổi khí hậu được hiện đại hóa và được kết nối thông suốt. Nâng cao khả năng chống chịu và phục hồi của hệ thống tự nhiên và xã hội vùng biển và ven biển trước các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu; phát triển mô hình cộng đồng ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; giám sát tác động của biến đổi khí hậu đến các ngành kinh tế biển và đời sống, sinh kế cộng đồng trên vùng biển và ven biển.

Lê Hưng

Nguồn: Tạp chí ĐT Thiên nhiên & Môi trường - thiennhienmoitruong.vn - Đăng ngày 26/03/2024